DINH DƯỠNG CHO BỆNH NHÂN SAU CẮT DẠ DÀY

Thứ năm - 21/12/2017 23:03
1.Đại cươngNgày nay phẫu thuật cắt bỏ dạ dày ( bán phần hay toàn bộ) được chỉ định cho những mặt bệnh như: xuất huyết dạ dày không đáp ứng với điều trị nội khoa, ung thư dạ dày…Tuy nhiên, trên lâm sàng các bác sĩ thường gặp các rối loạn về tình trạng dinh dưỡng sau phẫu thuật này. Hướng dẫn thay đổi chế độ dinh dưỡng kịp thời và thích hợp có thể giảm thiểu các rối loạn gây giảm cân và thiếu vi chất dinh dưỡng. Bài viết này sẽ xem xét các loại rối loạn dinh dưỡng khác nhau của việc cắt bỏ dạ dày và cung cấp hướng dẫn cải thiện sức khỏe đồng thời ngăn chặn các biến chứng cấp tính và mạn tính liên quan đến rối loạn dinh dưỡng.
DINH DƯỠNG CHO BỆNH NHÂN SAU CẮT DẠ DÀY

 

2.Vấn đề dinh dưỡng
Các nghiên cứu điều tra cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các loại phẫu thuật cắt bỏ dạ dày ( cắt bán phần và cắt toàn bộ dạ dày) về vấn đề rối loạn dinh dưỡng.
Ngoài các triệu chứng khó chịu sau ăn như ( cảm giác no, đầy bụng và các triệu chứng của hội chứng DUMPING) gây giảm cân sau cắt dạ dày vào khoảng 10%-30% trọng lượng cơ thể trước phẫu thuật, thì nguyên nhân khác như thức ăn lưu lại trong đường ruột bị rút ngắn, phát triển quá mức vi khuẩn đường ruột ( do giảm hàng rào acid của dạ dày) cũng gây nên tình trạng giảm cân trên.
Theo dõi chế độ Dinh dưỡng thường xuyên trong giai đoạn hậu phẫu sớm là chìa khóa để ngăn ngừa sự suy giảm dinh dưỡng. Thật vậy, một số báo cho rằng bệnh nhân không được hướng dẫn kỹ càng về chế độ ăn uống sau cắt dạ dày dần dần sẽ bị suy dinh dưỡng. Thông thường, bệnh nhân được cắt bỏ dạ dày được cho xuất viện mà không có hướng dẫn đầy đủ nên ăn những gì, ăn như thế nào, cái gì không nên ăn. Do đó, các bác sĩ lâm sàng nên chăm sóc dặn dò theo dõi kỹ vấn đề này để tránh xảy ra các biến chứng đáng tiếc.
Các vấn đề về gây nên tình tràng rối loạn dinh dưỡng bao gồm:
o Hội chứng DUMPING,
o Kém hấp thu chất béo, đờ dạ dày, căng đầy hơi
o Không dung nạp lactose
o Thiếu máu và rối loạn xương, bệnh xương khớp
3. Các vấn đề không dung nạp dinh dưỡng
3.1 Hội chứng Dumping
3.3.1 Triệu chứng
Trong hội chứng Dumping, thức ăn trong dạ dày vận chuyển không đều đặn và nhanh một cách bất thường xuống ruột non, kèm theo việc tăng áp suất thẩm thấu tại dạ dày. Các nghiên cứu cho thấy khoảng 25 – 50% bệnh nhân cắt dạ dày có biểu hiện của hội chứng Dumping, các triệu chứng thường xuất hiện sau phẫu thuật khoảng vài tháng tới nửa năm, trong đó khoảng 1-5% có biểu hiệu các triệu chứng nặng và dai dẳng. Phần dạ dày bị cắt càng lớn thì tình trạng bệnh lý càng nặng, đôi khi trở thành mạn tính.

Triệu chứng sớm xuất hiện sau khi ăn khoảng 15 – 30 phút, như đau bụng vùng thượng vị, buồn nôn, nôn, tiêu chảy; kèm theo bệnh nhân có thể hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi, hồi hộp, đánh trống ngực do nhịp tim tăng..
Triệu chứng muộn xuất hiện sau khi ăn khoảng 1 – 3 giờ, thường đơn thuần chỉ là các dấu hiệu của rối loạn thần kinh vận mạch, bệnh nhân mệt lả, vã mồ hôi, run rẩy, có thể ngất lịm; một số có biểu hiện của hạ đường huyết đột ngột do kích thích giải phóng quá nhiều insulin vào máu. Những trường hợp nặng, biểu hiện kéo dài dẫn tới chán ăn, sụt cân và suy dinh dưỡng; triệu chứng cũng có thể gây ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống của bệnh nhân.
3.1.2 Các biện pháp nhằm giảm thiểu triệu chứng dumping tối đa như:
• Nên chia nhỏ các bữa ăn trong ngày (thay vì 3 bữa sẽ được chia thành 6 ~8 bữa / ngày )
• Ăn chậm và nhai thật kỹ thức ăn
• Ngồi thẳng trong khi ăn hoặc ăn xong có thể nằm dựa vào ghế dựa một lúc
• Nếu đã có tiền sữ nôn ói nhiều sau khi ăn các thực phẩm có hàm lượng đường cao thì nên tránh hoặc giảm các thực phẩm như: nước trái cây, soda, bánh kem, kẹo, bơ, mật ong.
• Hạn chế uống nước trong khi ăn, nên uống khoản từ 30 ~60 ml trước hoặc sau ăn
• Ăn bổ sung các thực phẫm giảu protein trong các bữa như: trứng, thịt, cá, ngũ cốc, sữa, yogurt, phomat
• Chọn các loại thực phẩm giàu chất xơ: các thực phẩm từ bột gạo, bột mì, trái cây tươi, các loại đậu
• Nếu thấy khó khăn trong việc giữ cân nặng ổn định bạn có thể uống thêm các thức uống dinh dưỡng, thức uống tăng năng lượng có hàm lượng đường thấp
3.2 Kém hấp thu mỡ
Nguyên nhân : Thứ nhất, thời gian thức ăn trong ruột nhanh sẽ làm giảm thời gian thức ăn được nhào trộn và tiếp xúc với men tiêu hóa. Thứ hai là do mất đi chức năng co bóp sàng lọc thức ăn nhỏ gọn vào ruột của vùng hang vị nên sẽ tăng phần lớn các thức ăn có kích thước to vào hổng tràng như vậy sẽ còn gây khó khăn cho việc men tụy tiêu hóa thức ăn. Thứ ba, giảm sự co bóp, các chức năng thần kinh gây kích thích bài tiết dịch vị vốn có khi dạ dày còn tồn tại sẽ làm giảm thiểu đáng kể hàm lượng men tiêu hóa nói chung và men tụy nói riêng.
Sự giảm hấp thu mỡ này sẽ kéo theo giảm hấp thu các vitamin tan trong dầu ( A,D, E, K) các bệnh do thiếu các vitamin này sẽ xảy ra, da bong, mắt mờ, rối loạn về thành phần xương, tăng quá trình lão hóa cơ thể, và rối loạn về tạo máu
Các biện pháp ngăn ngừa hội chứng kém hấp thu mỡ : uống thêm các viên bổ sung men tụy trong các bữa ăn chính cũng như các bữa phụ, tăng cường các thực phẩm giàu vitamin tan trong dầu bên cạnh đó ăn kèm các chất béo thực vật khi ăn nhằm tăng khả năng hấp thu tối ưu ( trái cây, rau xanh, thịt, cá, trứng,sữa, dầu nành, dầu oliu )

3.3 Không dung nạp Lactose
Lactase là loại enzyme cần thiết cho sự hấp thu lactose, được tiết chủ yếu ở các nhung mao trong hổng tràng. Tuy nhiên một phần hổng tràng đã bị mất chức năng do nối tắt vị tràng do đó giảm khả năng dung nạp lactose.
Những bệnh nhân này thường gặp triệu chứng như đầy hơi, tiêu chảy, chướng bụng sau khi tiêu thụ thực phẩm giàu lactose (chủ yếu có trong sữa, sữa mẹ, và các sản phẩm khác từ sữa, bánh mỳ, ngũ cốc, một số món tránh miệng và nhiều loại kẹo.)
3.4 Đờ dạ dày
Bệnh nhân sau cắt bỏ dạ dày thưởng được cắt luôn dây thần kinh phế vị do đó bệnh nhân thường than phiền là đầy hơi, khó chịu, no lâu kéo dài, nôn ra thức ăn không tiêu vài giờ hoặc vài ngày trước.
Bệnh nhân sau cắt dạ dày có nguy cơ cao với việc tăng quá mức vi khuẩn đường ruột, và kém hấp thu với các thực thẩm cứng, do vậy nên khuyên bệnh nhân ăn những thực phẩm mềm, lỏng vừa
3.5 Thiếu máu do thiếu Vitamin B12 và folate
Có thể là kết quả của một trong hai sự thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate. Thiếu hụt B12 có thể do nhiều lý do. Thông thường, yếu tố nội tại là complexed B12 của dạ dày tạo điều kiện cho sự hấp thụ Vitamin B12 đặc biệt là đoạn cuối hồi tràng. Giảm yếu tố nội tại và giảm nồng độ axit dạ dày ở bệnh nhân cắt dạ dày làm suy yếu sự phân cắt của protein kết hợp Vitamin B12, bên cạnh việc vi khuẩn phát triển quá mức và giảm lượng thức ăn giàu B12 có thể cũng góp phần vào sự thiếu hụt (1).
Sự thiếu hụt thường gặp một năm sau mổ kèm theo các triệu chứng khác như
Mệt mỏi, ớn lạnh, tê liệt tứ chi, chóng mặt và triệu chứng thần kinh. Vì vậy,bổ sung B12 định kỳ là cần thiết.
Hướng dẫn bổ sung Vitamin B12:
• Trong trường hợp thiếu hụt nhẹ, viên uống B12 (500-1000mg / ngày). Lưu ý: tỷ lệ % giảm hấp thụ với liều lượng ngày càng tăng.
• Nếu thiếu hụt nghiêm trọng thì phải dùng thuốc tiêm với hàm lượng cao hơn
Các folate là tên gọi chung của acid folic (hay vitamin B9 hoặc folacin) và các folate dạng tự nhiên là vitamin tan trong nước.
Nguồn thực phẩm chứa folate nhiều là các loại rau lá có màu xanh đậm (súp lơ, rau cần, rau diếp), trái cây (cam, chuối tiêu), củ cải đường, các loại đậu, bánh ngũ cốc ăn sáng, mì ống, bột ngũ cốc, măng tây, đậu bắp, gạo, trứng, cá, gan động vật (bò, heo, gà), nấm, men bia…
3.6 Thiếu máu do thiếu sắt
Tá tràng là đoạn ruột chính cho sự hấp thụ sắt, bên cạnh sự giảm nồng độ axit dạ dày làm suy yếu sự chuyển đổi của sắt hơn.
Các biện pháp bổ sung :
• 150-300 mg sắt nguyên tố / ngày chia làm 3 lần. Nên uống bổ sung sắt trong khoảng 4-6 tháng để cải thiện tình trạng thiếu sắt.
• Không nên nghiền nát hoặc nhai thuốc.
• Không nên dùng chung thuốc trong vòng 2 giờ với tetracycline hoặc các fluoro-quinolone.
• Uống sắt chất lỏng thông qua ống hút để giảm thiểu các vết ố men răng.
• Bệnh chuyển hóa xương :như loãng xương, và gãy xương, thường được báo cáo ở bệnh nhân sau cắt dạ dày. Các nguyên nhân của bệnh xương ở bệnh nhân sau cắt dạ dày là chưa rõ nhưng có vẻ như là một sự kết hợp của giảm hấp thu canxi, vitamin D và lactose trong thực phẩm, cùng với thay đổi về hấp thụ là quá trình trao các đổi chất
• Bổ sung Canxi và Vitamin D qua thực phẩm ( thịt, cá, trứng sữa, hải sản ) và thuốc.
Dưới đây là 6 điều cân nhắc về chế độ ăn của bệnh nhân sau cắt dạ dày nên thực hiện :
1. Ăn ít các loại đường đơn giản: thực phẩm ngọt nên tránh bởi vì chúng qua dạ dày của bạn một cách nhanh chóng và có thể gây tiêu chảy.
2. Ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ hòa tan: loại thực phẩm được tiêu hóa trong dạ dày chậm và ngăn chặn được hấp thụ nhanh chóng vào máu, sẽ gây các biểu hiện của cơn hạ đường huyết
3. Sử dụng chất béo không bão hòa: các loại thực phẩm như bơ thực vật, mayonnaise, nước thịt và các loại dầu, salad băng, và pho mát kem nên được sử dụng thường xuyên trong các bữa ăn. Chất béo làm chậm tiêu hóa thức ăn trong dạ dày và có thể giúp ngăn chặn hội chứng Dumping
4. Chia thành nhiều bữa ăn trong ngày : ăn 5 hoặc 6 bữa ăn nhỏ thường xuyên hơn sẽ cho phép bạn ăn tương đương với 3 bữa ăn thông thường
5. Uống nước 30-60 phút sau bữa ăn thay vì trong bữa ăn.
6. Nếu dùng sữa gây khó tiêu hoặc tiêu chảy, nên chuyển sang dùng sữa không lactose, hoặc thay thế bằng các thực phẩm có lactose khác.

Nguồn tin: BVBC

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

caudoi1
caudoi2
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây